Hội nhập
Ghi danh
12:08 SA
Thứ Sáu
24
Tháng Năm
2024
31 Tháng Mười 20237:00 SA(Xem: 2390)
1. Những ai trung thành phụng sự Mẹ bằng cách lần Chuỗi Mân Côi sẽ nhận được những ơn cao cả. 2. Mẹ hứa sẽ ban những ơn lớn lao và sự che chở đặc biệt cho những ai lần Chuỗi Mân Côi. 3. Kinh Mân Côi sẽ là vũ khí cực mạnh chống lại hỏa ngục, tiêu diệt thói xấu, giảm tẩy tội lỗi và chiến thắng ma quỷ. 4. Kinh Mân Côi sẽ khiến nhân đức và các việc lành phát triển; sẽ đem lại nhiều lòng thương xót của Chúa xuống trên các linh hồn; sẽ rút lòng họ khỏi sự yêu mến thế tục và sự hư ảo của nó, và sẽ dẫn đưa họ đến ước ao những sự vĩnh cửu. Ôi, những linh hồn ấy sẽ được thánh hóa biết bao bởi những ý nghĩa này!
20 Tháng Năm 20218:30 CH(Xem: 5261)
Trong những khó khăn và nguy hiểm, hãy nhớ đến Mẹ – hãy réo gọi Mẹ! Đừng để danh thánh Mẹ rời xa môi miệng bạn. Hãy tưởng nghĩ đến Mẹ luôn luôn! Có Mẹ, bạn sẽ không lạc lối. Được Mẹ chở che, bạn sẽ không sợ gì. Mẹ sẽ dẫn bạn đến với Chúa Giêsu, Đấng Cứu Độ của bạn!”
07 Tháng Mười 20161:17 CH(Xem: 15894)
Ở thành Chieti miền Naple, có một người làm nghề đặt nợ ăn lãi. Y chẳng biết ai, chỉ biết có tiền. Với hạng khổ rách áo ôm y cũng chẳng thông cảm mà còn bóc lột tận xương tủy, chẳng tha. Chúa đã phạt y phải bệnh phong hủi từ đầu đến chân. Bao nhiêu tiền của đổ ra để uống thuốc cũng đều vô ích, tiền mất tật mang. Không còn trông được người thế gian cứu chữa, Y chạy đến Đức Mẹ Loretta và vẫn tha thiết xin Mẹ cứu chữa rồi sai người bỏ vào hòm tiền khấn nơi bàn thờ Đức Mẹ một trăm đồng vàng.
BÀI MỚI NHẤT
Còn theo Đức Phanxicô: “Kinh Mân Côi là kinh đi theo tôi suốt đời. Đó là kinh của những người đơn sơ và của các thánh.” Trong phần kết luận, linh mục Amorth nhấn mạnh đến vai trò trọng tâm của Mẹ Maria trong cuộc chiến chống sự dữ. Một cuộc chiến mà cá nhân ngài, trong tư cách là người trừ quỷ ngài đã chạm trán, đối với ngài, đây là cuộc chiến thách đố lớn nhất của thời buổi này.
Và rồi đêm nào cũng thế.. cho đến một lần kia anh tìm được cây thập giá vừa ý nhất, nhẹ nhàng và êm ái nhất, vác về nhà. Nhưng ôi khi nhìn kỹ lại thì ra đó chính là cây thập giá đầu tiên mà Chúa đã trao cho anh ngày nào !
Con xin kính chào quý Tuyên Uý, quý anh chị trong Ban Chấp Hành Tổng Hội Mân Côi. Con mới bổ nhiệm chị Lucia Trần thị Hội làm Hội trưởng MC tại Tp Portland.
KHÁCH THĂM VIẾNG
100,000

TIN LÀNH _ (Protestant Church)

27 Tháng Mười Một 201312:00 SA(Xem: 11259)


1. Lịch sử: Không kể những nhà cải cách như John Wicliff (1320-1384) Ông là linh mục học giả người nước Anh, có trước Luther chừng 200 năm. Ông chủ trương lấy Kinh thánh làm qui luật sự sống. John Hus (1369-1415) linh mục người Bohemian, ông tung ra 30 luận đề chống Công đồng Constantinô. Ở đây chỉ tìm hiểu Đạo Tin lành do linh mục Luther khởi xướng năm 1517.
protestant_church
Martin Luther (1483-1546): Sinh năm 1483 tại Eisleben nước Đức, là anh thứ hai trong 8 anh em. - Ngay từ nhỏ martin đã gặp cảnh khổ của một gia đình thợ mỏ vất vả, nghèo khó khiến cậu có ý nghĩ đen tối về cuộc đời. Cha mẹ đông con lại tính tình cứng cỏi, hay đánh mắng con cái. - Ở nhà trường, Martin chịu cảnh giáo dục thời đó: khắt khe dưới những lằn roi và hình phạt cứng cỏi…, mà Luther sau này gọi nó là "địa ngục". - Đạo Công giáo được người ta trình bày như thứ đạo nghiêm khắc, dễ sa hỏa ngục, tạo cho Luther một tâm hồn bối rối. Thời gian sau, gia đình Martin trở nên khá giả, Martin được vào đại học. Có lần đang đi giữa đường gặp cơn mưa lớn, sét đáng ngang tai, Martin thầm khấn: nếu Chúa cho khỏi sét đánh, cậu sẽ đi tu. Nửa tháng sau, Martin xin vào dòng thánh Augutinh tại Erfurt.

Vào dòng tu, Martin Luther theo ban thần học và thụ phong linh mục năm 1507, rồi được đi học Kinh thánh, đậu tiến sĩ thần học năm 1512, sau đó làm giáo sư. Nhờ tài dạy học và giảng thuyết, ông được giới sinh viên và giáo dân quí mến. Trong những năm giảng dạy Kinh thánh, ông đã đưa ra nhiều quan niệm mới lạ mà ông cho là đã "khám phá ra được nhờ ơn Chúa soi sáng sau bao năm khắc khoải lo âu." Để trấn an lương tâm bối rối lo sợ sa hỏa ngục, ông hãm mình, ăn chay, phạt xác…ông đọc thư thánh Phaolô và tìm thấy câu Kinh thánh: "Người công chính sống bởi đức tin" (thư gửi dân Rôma 1, 17), ông cho là một khám phá mới và bám lấy nó để dần dần thành hình một giáo thuyết mới: sống bởi đức tin chứ không cần công nghiệp riêng tư cố gắng của mình. Đây là yếu tố then chốt đã khiến bất đồng với lối sống đạo thời đó, với những những ơn Giáo hội ban qua ân xá, hành hương, đóng góp...
martin_luther-content
Lên tiếng: Năm 1517, linh mục Luther dán 95 luận đề về những quan điểm riêng của ông lên cửa nhà thờ ở thành Wittenberg. Ông phản đối người Công Giáo khi lệ thuộc vào công việc lành, dù bất cứ việc gì, kể cả ân xá, để được tha tội và được cứu rỗi.

Đành rằng, thời đó giáo dân có những lạm dụng, mấy nhà thần học, mầy vị quyền chức trong giáo triều độc đoán, thủ cựu, thiếu tế nhị, ít hiểu tâm lý của một thầy dòng muốn cải cách cho Giáo hội, không nghĩ tới tâm trạng dân chúng phải đóng thuế nặng nề; nhưng đáng tiếc, linh mục Luther đã làm việc không đúng đường lối khiêm tốn, vâng phục theo tinh thần Chúa Kitô. Ông lại được giới sinh viên, các bạn trong dòng tu (Công hội năm 1518), nhiều người, cả nhà vua lên tiếng hỗ trợ…, do đó, Luther thêm gan dạ quyết không lùi bước.

Martin Luther lúc đầu, không có ý định từ bỏ Giáo hội Công giáo, nhưng lúc này, do quá tin mình đi đúng đường, do được nhiều giới ủng hộ, do đe dọa sẽ mắc vạ tuyệt thông, nếu không rút lại những điều đã tuyên ngôn, ông đâm liều tuyên bố: "Việc đã xong, đời đời tôi không bao giờ làm hòa với Rôma nữa". Ông từ chối thẩm quyền của Đức giáo hoàng Rôma, không còn coi mình là người Công giáo, chỉ còn tin vào Chúa Kitô và vào Kinh thánh, mỗi người có quyền giải nghĩa Kinh thánh tùy Thánh Thần hướng dẫn. Ông viết ba luận đề khước từ quyền bính của Giáo Hội Công Giáo và các giáo hoàng. Ông chê luật độc thân của hàng linh mục, chê việc hành hương viếng đền thờ, và tôn kính xương các thánh…bỏ các bí tích Thêm sức, Hôn phối, Truyền chức thánh, Xức dầu thánh mà ông cho là không có nguồn gốc trong Kinh thánh, ông đố sách giáo luật Công giáo và các sách khác... Ông kêu gọi các hòang tử Kitô giáo ở Đức đứng lên thành lập giáo hội tự trị. Hầu hết các hòang tử Đức đều muốn thoát khỏi thẩm quyền và chế độ thuế khóa của Rôma, do đó họ ủng hộ Luther và bổ nhiệm các giám mục cho Giáo hội mới của họ.

Năm 1521, Martin Luther bị Giáo Hội Công Giáo chính thức phạt vạ tuyệt thông, nghĩa là không còn được những quyền lợi của người Công giáo chân chính nữa. Ông Luther đã đốt sắc chỉ này, Ông gọi Giáo hoàng là quỉ vương ra đời, kêu gọi mọi người đoạn tuyệt với Rôma để được cứu rỗi.

Giáo thuyết của Luther bắt đầu từ nước Đức lan tràn đi nhiều nước bên cạnh. Nhiều linh mục tu sĩ nam nữ đi theo chủ trương của Luther đã xuất tu, về đời lập gia đình rồi trở thành những người tuyên truyền đạo mới.

Kết quả, nhiều nơi bỏ thánh lễ, dẹp bỏ ảnh tượng Chúa, Đức Mẹ, các thánh, có nơi còn bỏ Rửa tội trẻ em, cho là không thành, nên lập ra phái Rửa tội lại cho người lớn. Về chính trị: nông dân nổi lên chống hàng quí tộc, gây nên những vụ đốt phá, giết người. Rất nhiều nhà thờ, tu viện bị tàn phá, cướp của…Ngược lại, các ông hoàng sợ mất quyền bính đã đàn áp đẫm máu những kẻ nổi loạn khắp nơi. Luther, lúc này lên án bọn nông dân, đòi "cắt cổ bọn phiến loạn" và ông đứng về phe các quí tộc.

Năm 1524, Luther cởi bỏ áo tu, tuyên bố bỏ bậc tu trì và luật độc thân linh mục, năm sau ông kết hôn với bà Catarina Bora, một nữ tu dòng Xitô hồi tục theo thuyết của ông. Về sau bị bạn bè chê trách, ông Luther thú nhận: "Lấy vợ, tôi đã trở nên đốn mạt, các thiên thần phải cười, và ma quỉ phải khóc".

Năm 1525, Luther đã nhận xét chua cay: "Không ai trong giáo hữu chúng ta lại không có đời sống xấu xa hơn trước". Trong mấy năm cuối cùng, Luther buốn rầu khi nhìn vào giái hội cải cách của ông, lại thêm nhiều bệnh tật, ông trở nên khó tính.

Năm 1546, trước khi, dù không nói được, ông cố viết lên tường những lời nguyền rủa giáo hoàng Rôma: "Hỡi giáo hoàng, khi sống ta là ôn dịch của ngươi, khi chết ta là tử hình cho ngươi".

Huldreich Zwingli (1484-1531) khởi sự một nhà thờ trong thành phố Zurich, Thụy Sĩ, và chủ trương rằng Bữa Tiệc Ly chỉ là một bữa tiệc có tính cách tưởng nhớ, do đó không có sự hiện diện thực sự của Đức Kitô. Luther bất đồng với Zwingli về điểm này trong cuộc Hội Đàm ở Marburg năm 1529.

Trước khi từ trần trong cuộc chiến năm 1531, Zwingli ra lệnh dìm chết một số người ở Zurich, là những người nhất định phải tái rửa tội người lớn và chủ trương chỉ có sự rửa tội người lớn mới có giá trị. Những người này được gọi là Anabaptist (tái tẩy) và họ đã đi quá xa. Họ từ bỏ Zurich để thiết lập các cộng đoàn nhỏ bé, sống khắng khít trong các vùng hẻo lánh ở Moravia về phía đông. Trong thời gian này, tên Anabaptist được dùng để chỉ nhiều tổ chức khác nhau, nhưng chung quy, họ đều cho rằng tín điều của người Công Giáo và Tin Lành thì quá cực đoan.

Một người Anabaptist là Thomas Munzer, đã xách động cuộc cách mạng nông dân, và "Vua Munster" là John ở Leiden, đã chiếm một thành phố và cho phép tình dục bừa bãi ở đây. Một vài người Anabaptist vô trách nhiệm này đã khiến một số Kitô hữu đích thực bị bách hại vô cùng dã man, ví dụ như những người Hutterite ở Moravia, mà họ cùng chia sẻ tài sản và sống một cách êm đềm và siêng năng, và những người Mennonite ở Hòa Lan, là những người theo chủ nghĩa hòa bình và sống rất khắc khổ. Có lẽ trong thời kỳ này, những người Anabaptist chết vì đức tin nhiều hơn bất cứ người Kitô giáo nào khác. Họ bị bách hại bởi người Công Giáo và cả người Tin Lành, và họ từ chối việc sử dụng vũ lực để tự vệ.

John Calvin (1509-1564). John Calvin là người Pháp. Sau khi học thần học và luật ở Balê khi còn trẻ, bỗng dưng ông chuyển hướng sang các quy tắc của phong trào Cải Cách được Luther khởi xướng.

Sau đó, Calvin định cư ở Geneva, Thụy Sĩ, là nơi ông chủ trương sự tổng hợp thẩm quyền giữa nhà nước và Giáo Hội, mà địa vị hàng đầu được trao cho Giáo Hội. Trong thuyết chính trị thần quyền này, Calvin gò ép ra một lối sống Kitô Hữu nghiêm nhặt và khắc khổ tương tự như các đan viện thời trung cổ. John Knox (1513-72) ở Tô Cách Lan, sau khi đến Geneva, gọi đời sống đó là "trường phái học hỏi về Đức Kitô tuyệt hảo nhất trên mặt đất kể từ thời các tông đồ," và ông đã đưa chủ thuyết Calvin về Tô Cách Lan để trở thành Giáo Hội Presbyterian.

Văn bút vĩ đại của Calvin là cuốn Các Tổ Chức Kitô Giáo, nền tảng thần học của truyền thống Cải Cách. Calvin tẩy chay mọi tín điều không rõ ràng ghi trong Phúc Âm và chỉ tập trung đức tin vào Lời Chúa mà thôi. Giáo đường của ông màu trắng và thật trống trải. Không có bàn thờ, tượng ảnh, đàn organ, hay kính mầu. Mọi vết tích Công Giáo đều bị xoá sạch, ngoại trừ Phúc Âm.

Lý thuyết của Calvin được tranh luận sôi nổi nhất là Thuyết Tiền Định, ông cho rằng ngay từ ban đầu Thiên Chúa đã tiền định cho những ai được cứu rỗi và những ai bị luận phạt, do đó, công trạng con người không có giá trị gì. Vì được tiền định, những người được chọn chắc chắn sẽ sinh kết quả tốt đẹp qua sự chính trực và đời sống tốt lành của họ.

Chúng ta có thể nhận thấy ba giòng Cải Cách Tin Lành trước đây -- Luther, Calvin và Anabaptist -- ngày càng ít giống với Giáo Hội Công Giáo mà họ đã tách biệt. Trước đây, nguyên tắc của Công Giáo là sự hợp nhất của đức tin, bây giờ được thay thế bằng nguyên tắc của Tin Lành là sự tinh tuyền của đức tin, càng ngày càng có nhiều tổ chức phân lập, mỗi một tổ chức đều cho rằng mình tinh tuyền hơn và trung tín hơn với phúc âm của Đức Giêsu Kitô. Dựa trên nguyên tắc này, sự Cải Cách đã không thể tránh được việc phân chia Giáo Hội thành nhiều thực thể khác nhau. Tuy nhiên, nhận định này không làm xao xuyến nhiều người Tin Lành mà họ cho rằng Đức Giêsu đã thành lập một thực thể vô hình, thiêng liêng bao gồm tất cả những ai tin vào Đức Kitô theo như họ nghĩ, chứ không phải một thực thể hữu hình, có quá trình lịch sử đang hiện diện trong hình thức hợp nhất trên thế giới như người Công Giáo hiểu biết về giáo hội. Đây là một trong những khác biệt quan trọng trong sự hiểu biết giữa người Công Giáo và hầu hết người Tin Lành.

Ngày nay vì không có đầu, nên Tin lành chia ra làm nhiều phái khác nhau, nên mỗi giáo phái mang một tên riêng: Adventist, Anabaptism, Arminianism, Baptist, Congregatiolists, Disciples, Methodists, Pentecostistals, Puritans, Presbyterians, Quarkers, Unitarianism, Universalism…Lutheran, Calvanist,United Church of Christ, …

(Tham khảo: Lm Bùi Đức Sinh OP, Lịch sử Giáo hội Công giáo, Chân lý xb, Sài gòn, 1972 trang 12-18); và web site Nguoitinhuu.com Lịch sử Giáo hội Công giáo, phần IV: Phong trào Cải cách, Catholic Almanac 2004).

2. Nhân số người theo Giáo hội Tin lành: Thật khó có con số chính xác, dù tương đối, vì ngay trên đất Mỹ đã có hơn 250 giáo hội Tin lành nhỏ, lý do là không có một thủ lãnh có thẩm quyền toàn cầu.

3. Giáo hội Công giáo với Giáo hội Tin lành: "Đối với các tôn giáo mang danh Kitô, Giáo hội Công giáo chủ trương "Tái lập sự hiệp nhất giữa toàn thể các Kitô hữu theo ước nguyện của Chúa Kitô: " Xin cho chúng nên một như Cha Con Ta là Một".

"Giáo hội khuyến khích mọi người phải lưu tâm đến sự hiệp nhất, hoán cải tâm hồn, hiệp nhất trong lời cầu nguyện, tìm hiểu nhau, cộng tác với anh em ly khai" (Sắc lệnh về Hiệp nhất).

Tổng quát, giáo hội Tin lành và Công giáo khác nhau ở những điều sau:

1. Về những điều nền tảng: bên Tin lành chủ trương:

1/ Tội Tổ tông đã hoàn toàn làm hư hỏng con người,

2/ Thiên Chúa đã tiền định theo số mạng cho một số người được cứu rỗi,

3/ Con đường cứu rỗi là tin vào lời hứa trong Tin lành, không do công phúc cá nhân.

Theo Công giáo:

1. Tội Tổ tông có làm con người hư hỏng: trí khôn ra tối tăm, lòng muốn hướng về tội, phải đau khổ và phải chết, nhưng không "hoàn toàn hư hỏng", vẫn còn nhiều khả năng căn bản: làm lành lánh dữ.

2. Thiên Chúa định đoạt, nhưng con người vẫn có lý trí, có ý muốn "tự do" chọn lành hay dữ, nên sẽ được thưởng hay bị phạt.

3. Phải tin vào Tin lành Phúc âm, nhưng còn phải làm việc để chứng tỏ lòng tin. "Đức Tin không việc làm là đức tin chết" (thư thánh Giacôbê 2,17). Chúa dạy "Ai muốn theo Ta, phải bỏ mình vác khổ giá mình hàng ngày mà theo"(Luca 9,23). Nói cách khác là phải cố gắng lập công, đền tội khi còn sống. Hơn nữa, Kinh Thánh viết :"Người ta sẽ được trả công tùy theo việc họ làm (sách Khải huyền 22, 12).

2/ Về Kinh thánh (Bible): Kinh thánh là nguồn của đức tin, mỗi người được theo ơn Thánh Thần tự rút ra quan điểm sống.

Theo Công giáo:

Kinh thánh nhiều chỗ rất khó hiểu, giáo dân không bị cấm đọc, nhưng cần được Giáo hội hướng dẫn, chú giải để hiểu đúng Lời Chúa .

3/ Về tôn kính Đức Mẹ Maria: Tin lành coi Đức Mẹ Maria chỉ là dụng cụ Thiên Chúa đã dùng sinh ra Đấng Cứu thế, xong việc là thôi, không có gì phải tôn sùng.

Theo Công giáo:
Không ai yêu mến Đức Mẹ bằng con của Người là Chúa Kitô. Chúa đã sống và vâng phục Mẹ Người 30 năm, chỉ đi giảng đạo 3 năm. Người Công giáo có tôn kính Đức Mẹ thế nào cũng không bằng Chúa Kitô.

4/ Về tôn kính ảnh tượng: bên Tin lành không tôn kính ảnh tượng bất cứ vị nào dù là Chúa Giêsu, Đức Maria hay các thánh, họ cho là Thiên Chúa trong Kinh thánh Cựu ước đã cấm người Do thái.

Theo Công giáo:

Xưa Thiên Chúa cấm người Do thái thờ hình tượng, vì khi tâm trí họ còn thấp kém, Chúa không muốn họ lẫn lộn Chúa với các thần ngoại giáo. Nhưng nay người Công giáo được phép tôn thờ ảnh tượng Chúa Giêsu, vì Chúa đã nhập thể trong hình hài con người. Họ cũng được tôn kính (không thờ) ảnh tượng Đức Maria và các thánh đã hiện diện ở trần gian, nay đang hưởng phúc Thiên đàng, hằng cầu phúc lành cho họ.

5 / Về lãnh các Bí tích, Ông Luther giữ lại 3 Bí tích: Rửa tội, Giải tội, Thánh Thể. Về Rửa tội: Tin lành không Rửa tội cho con trẻ, nếu có, lớn lên phải rửa lại. Về giải tội: ông Luther bỏ việc xưng tội, ông cho rằng, chỉ cần làm tác động "vươn mình lên với Chúa" và khiêm nhường nhận lỗi là xong. Về Thánh Thể: Tin lành không nhận thánh lễ là một Hiến lễ, và không nhận sự "biến bản thể"của bánh rượu nên Mình Máu Thánh Chúa Kitô. Họ chủ trương bản tính bánh và bản tính Chúa Kitô có đồng thời.

Theo Công giáo:
Tin có 7 Bí tích do Chúa Giêsu lập: Rửa tội (Matthêu 28,18), Thêm sức(Gioan 20, 22), Thánh Thể(Gioan 6,51), Giải tội(Gioan 20,23), Xức dầu(Giacôbê 5,14), Truyền chức(Luca 22,19), Hôn phối(Matthêu 19,6). Mỗi bí tích có mục đích riêng.

6/ Về linh mục độc thân: Đạo Tin lành quan niệm mục sư độc thân là mục sư không hoàn toàn và thiếu quân bình, do đó việc ông Luther lấy vợ đối với họ không có gì là trái nghịch, ngược lại đó chỉ là kiện toàn cuộc sống, bởi vì lấy vợ là "một nhu cầu tự nhiên của con người như ăn uống, khạc nhổ…".

Theo Công giáo:

Noi gương Chúa Kitô là Thầy, các linh mục Công giáo tình nguyện sống độc thân vì nước trời (Matthêu 19,6) để hiến thân trọn vẹn cho Chúa, chăm sóc đoàn chiên được trao phó (Gioan 21, 15-17). Đây là một hi sinh cả cuộc đời, đáng kính phục
Cảm thấy cô đơn: Khi ở trong tình trạng ấy, Thánh Ignatio cho chúng ta 4 chìa khoá để làm vũ khí: ( Cầu nguyện thêm, suy niệm nhiều hơn, xét minh. Xét xem lý do tại sao mình ở trong tình trạng cô đơn?) và bắt mình làm việc thống hối. Một số tà thần sẽ bị trừ khử khi ta cầu nguyện và làm việc sám hối.
Thiên Chúa cũng thế, bạn chỉ có thể cảm nhận được bằng đức tin và tình yêu. Bạn hãy khẩn nài Chúa ban cho ĐỨC TIN, nó sẽ mở đôi mắt tâm hồn bạn để bạn nhìn nhận sự hiện diễn của Thiên Chúa.
Ma quỷ có biết được những suy nghĩ của chúng ta hay không? Liệu chúng có thể hiểu được những gì chúng ta đang nghĩ tại một khoảnh khắc nào đó trong cuộc sống không? Câu trả lời rất đơn giản: hoàn toàn không.
Mầu nhiệm tử nạn và phục sinh của Chúa mời gọi ta điều gì ? T. Mầu nhiệm ấy mời gọi ta dứt bỏ tội lỗi, để sống cho Đấng đã chết và sống lại vì ta.
“Các ngươi không được đến với các người ngồi đồng ngồi bóng và không được hỏi ý kiến chúng, kẻo vì chúng mà ra ô uế. Ta là ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của các ngươi” (Lv 19,31);
Bởi vì theo Kinh Thánh, ghi một dấu trên trán là biểu tượng về quyền sở hữu của một người. Bằng cách để trán của mình được ghi dấu thánh giá, điều này nói lên rằng người đó thuộc về Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã chết trên Thập giá. Điều này là để mô phỏng dấu ấn thiêng liêng hoặc ấn tín đã được ghi trên một Kitô hữu khi họ chịu phép Rửa tội. Trong Bí tích này họ được giải thoát khỏi nô lệ tội lỗi và ma quỷ để trở thành con cái của sự công chính và của Chúa Kitô (Rm 6,3-18).
Nhân dip mừng đầu năm mới, xin cha cho biết người Công giáo có được phép tin 12 Con Vật làm chủ vận mạng con người và vũ trụ như huyền thoại Đông phương tin tuởng không ?
Trong mối quan hệ của chúng ta đối với Thiên Chúa, khi chúng ta bắt đầu tính toán để khỏi làm hơn bổn phận đòi hỏi, làm vừa vặn cho đúng luật buộc, khi chúng ta cố “mặc cả” về điều “được phép” và “điều cấm đoán” để tìm ra những điều dễ làm hơn, khi chúng ta muốn tìm ơn cứu rỗi “rẻ tiền”, thì lúc đó chúng ta nên xét lại tình trạng sức khỏe đức tin của chúng ta !
Nếu hạnh phúc Thiên Đàng là được trọn vẹn chiêm ngắm Thánh Nhan Chúa (Beatific Vision) thì hoả ngục là nơi tuyệt đối không có hạnh phúc này. Nói khác đi, ở đâu có Thánh Nhan Chúa thì ở đó là Thiên Đàng, vi “Phúc cho ai có lòng trong sạch vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa” (x. Mt 5:8). Được nhìn thấy Thiên Chúa là chính hạnh phúc của các thánh,và các thiên thần trên thiên đàng. Ngược lai, không được nhìn thấy Thiên Chúa mới là điều bất hạnh, đau khổ nhất cho những ai phải sống trong nơi “giòi bọ không hề chết và lửa không hề tắt.” (Mt 9:48). Như vậy, không thể có vấn đề Chúa hiện diện cả ở thiên đàng lẫn hoả ngục được, vì như thế thì làm sao có sự khác biệt giữa hai nơi này, và làm gì có vần đề tội lỗi phải quan tâm và xa tránh nữa.
Đặc biệt, để việc tham dự các Thánh Lễ nói chung và Thánh Lễ ngày Chúa Nhật nói riêng một cách đầy đủ và đúng đắn, cũng như có hiệu quả, tức mang lại ơn ích thiêng liêng cho người tham dự, thì đương sự phải hoàn toàn tự nguyện tham dự trọn vẹn từ đầu đến cuối Thánh Lễ, nhất là tham dự vì do xác tín, vì tin yêu và vì lòng biết ơn đối với Thiên Chúa, chứ không do miễn cưỡng, do ép buộc hay vì một lý do ngoại tại nào khác.
Hỏi: Nhân tháng cầu cho các linh hồn ( tháng 11) xin cha giải thích rõ về hai nơi gọi là Luyện ngục và Hỏa ngục. Trả lời: Trong niềm tin Kitô Giáo, căn cứ vào Kinh Thánh và Giáo lý của Giáo Hội thì chắc chắn phải có ba nơi gọi là Thiên Đàng, Luyện ngục và hỏa ngục ( hell) mà những người chết đi trong thân xác sẽ phải bị phán xét để đến một trong ba nơi này.
Thiên Chúa luôn luôn nói với chúng ta, nhưng thường thì chúng ta không ý thức, không lắng nghe. Và như thế, nỗi đau chính là máy phóng âm của Thiên Chúa với thế giới điếc đặc này.
Thánh Elisabeth là con vua Phêrô III nước Aragon, và là cháu vua Giacôbê I. Ngài sinh ra năm 1271 và được đặt tên là Elisabeth, để kính nhớ thánh nữ Elisabeth, Hoàng hậu nước Hungari là dì của cha Ngài. Elisabeth ra đời như sứ giả hòa bình, vì khi Ngài sinh ra, cha Ngài và ông nội Ngài làm hoà với nhau. Vua Giacôbê muốn tự mình giáo huấn
Bác học Pasteur: "Càng nghiên cứu khoa học, tôi càng tin vào Thượng Đế." ; "Mĩa mai cho lòng dạ con người, nếu chết là hêt hoặc chết là trở về với hư vô." Bác học Becquerel: "Nhờ nghiên cứu khoa học đã dẫn tôi đến Thượng Đế và tôi có đưc tin."
Có một số người không tin có hỏa ngục đời đời, họ lý luận: có cha mẹ nào nỡ trừng phạt con cái mãi mãi, hốn chi là Thiên Chúa là Đấng vô cùng tốt lành? Để có câu trả lời, chúng ta cùng tìm hiểu những điều sau đây: 1. Thiên Chúa đã ban sự tự do cho loài người: chọn Thiên Chúa hay chối bỏ Thiên Chúa. Vì con người có tự do, nên có tránh nhiệm về sự chọn lựa. Kẻ chối bỏ Thiên Chúa là kẻ không muốn đến gần Thiên Chúa, không muốn vào thiên đàng, là vương quốc đời đời hạnh phúc.