Hội nhập
Ghi danh
2:51 CH
Chủ Nhật
18
Tháng Tư
2021
07 Tháng Mười 20161:17 CH(Xem: 9948)
Ở thành Chieti miền Naple, có một người làm nghề đặt nợ ăn lãi. Y chẳng biết ai, chỉ biết có tiền. Với hạng khổ rách áo ôm y cũng chẳng thông cảm mà còn bóc lột tận xương tủy, chẳng tha. Chúa đã phạt y phải bệnh phong hủi từ đầu đến chân. Bao nhiêu tiền của đổ ra để uống thuốc cũng đều vô ích, tiền mất tật mang. Không còn trông được người thế gian cứu chữa, Y chạy đến Đức Mẹ Loretta và vẫn tha thiết xin Mẹ cứu chữa rồi sai người bỏ vào hòm tiền khấn nơi bàn thờ Đức Mẹ một trăm đồng vàng.
15 Tháng Mười 201012:00 SA(Xem: 13308)
Vậy nếu cha không hy sinh chết thay cho 1 bạn tù, thì cũng chỉ ít hôm nũa Cha cũng sẽ bị quân Đức giết chết. Nhưng cái chết sau này dù cũng có giá trị tử đạo đấy, nhưng cũng không sao bằng cái chết hy sinh của Cha. Cái chết hy sinh ấy làm nổi bật cái gíá trị của cuộc đời thánh thiện của cha thánh Kolbe.
15 Tháng Mười 201012:00 SA(Xem: 17928)
Đức Mẹ đi tu 15 năm Beatrice, 1 thiếu nữ còn trẻ xinh đẹp. Chị được ơn kêu gọi gia nhập Nữ tu viện ở Pondro, Tây ban Nha. Khi vào dòng, chị được Mẹ Bề Trên và các chị dòng rất yêu mến, vì Beatrice tỏ ra hiền lành, đạo hạnh, chu toàn mọi phận sự được giao phó. Chỉ 1 thời gian sau, chị được giao nhiệm vụ coi sóc nhà thờ, trưng bày hoa nến, đóng mở cửa nhà thờ cho người ta đến kính viếng
KHÁCH THĂM VIẾNG
1,207,131

Ngôi nhà Đức Mẹ Đồng Trinh Maria

30 Tháng Tám 201412:00 SA(Xem: 13947)
Người ta tin rằng Đức Mẹ Đồng Trinh Maria đã sốnnha-cua-duc-me-dong-trinh_1-contentg những ngày cuối đời tại một ngôi nhà nhỏ gần thành phố cổ Ephesus, phía Tây Nam của Thổ Nhĩ Kỳ.
Ngôi nhà này sau đó trở nên rất linh thiêng, thậm chí là có quyền năng giúp người ta hoàn thành ước nguyện.

Câu chuyện bắt đầu từ những truyền thuyết về việc Đức Mẹ Đồng Trinh Maria cùng với gia đình đã chuyển đến sinh sống tại khu vực ngoại vi của một thành phố lớn trong những năm cuối đời.

Dựa vào những đặc điểm được mô tả của thành phố trong truyền thuyết, người ta đoán rằng đó chính là thành cổ Ephesus, dù không có bất cứ tài liệu nào ghi chép về điều này.

Những lời đồn đoán càng rộ lên vào đầu thế kỷ 19 với sự kiện một nữ tu sỹ tên là Anna Katherina Emmerich (1774-1820) sống lại sau cơn thập tử nhất sinh và kể về những điều huyền bí.

Năm 1811, nữ tu sỹ Emmerich, người đã cống hiến cả cuộc đời mình cho Thiên Chúa, ốm liệt giường trong một tu viện nhỏ ở Đức. Giữa cơn mê sảng, bà bắt đầu nghe thấy những tiếng nói, những hình ảnh vừa xa xăm lại vừa sống động. Những câu chuyện kể rất chi tiết về cuộc đời của Chúa Jesus, Đức Mẹ Đồng Trinh Maria và chuyến di cư của Người từ hàng ngàn năm trước.

Người ta kể lại rằng lúc đó nữ tu sỹ đã cực kỳ ốm yếu. Bà nằm trên giường cầu nguyện với hai cánh tay giang rộng. Rồi đột nhiên bà lên cơn sốt và co giật, sắc mặt đỏ gay.

Ngay sau đó, một luồng ánh sáng từ trên cao chiếu xuống cơ thể bà. Khi nó rọi đến hai bàn tay của người tu sỹ, bàn tay bà chợt dính đầy máu như thể vừa bị đóng bằng đinh câu rút.
Những người chứng kiến đã cực kỳ kinh ngạc và sợ hãi. Cứ y như là Emmerich vừa nếm trải nỗi đau bị hành xác của chúa Jesus. Các bác sỹ cũng không thể giải thích được bằng y học.

Người nữ tu sỹ sau đó đã hồi tỉnh lại, tuy vẫn nằm liệt giường nhưng tinh thần lại sáng suốt lạ kỳ. Bà bắt đầu kể những câu chuyện về Đức Mẹ Đồng Trinh mànha-cua-duc-me-dong-trinh_2-content bản thân vừa trải nghiệm. Những câu chuyện được một nhà văn có tên là Clemens Brentano ghi lại, trước khi Emmerich mất ý thức hoàn toàn chỉ sau đó vài tháng. Bà mất tại tu viện vào năm 1820.

Emmerich đã nhìn thấy rõ ràng cảnh Đức Mẹ Đồng Trinh Maria rời khỏi Jerusalem cùng với thánh John trước khi những cuộc vây bắt tín đồ Thiên Chúa Giáo trở nên tồi tệ. Họ đã đến Ephesus.

Người nữ tu sỹ ốm yếu cũng trông thấy ngôi nhà mà gia đình Đức Mẹ Đồng Trinh sinh sống: một ngôi nhà bằng đá do Thánh John tự tay xây dựng. Ngôi nhà khá nhỏ nằm trên đỉnh một ngọn đồi, hình chữ nhật và có hàng rào bao quanh.

Trong ngôi nhà cũng có một căn buồng nhỏ nằm kề bên khe suối. Giữa căn buồng còn có lò sưởi. Đây chính là nơi mà Đức Mẹ nghỉ ngơi và sinh hoạt hằng ngày.

Theo những gì mà Emmerich kể lại, sau khi sinh sống tại vùng đất mới được chừng 3 năm, Mẹ Maria ngày càng tha thiết muốn trở về quê nhà ở Jerusalem, do đó mà Thánh John và Thánh Peter đã đưa bà quay trở lại.

Chuyến hành hương vất vả đã khiến cho Đức Mẹ trở nên ốm yếu. Bà gầy xọp đi nhanh chóng và tất cả mọi người đều cho rằng sẽ không thể nào qua khỏi. Họ bắt đầu chuẩn bị một ngôi mộ cho bà.

Thế nhưng khi ngôi mộ được hoàn thành thì cũng chính là lúc Đức Mẹ dần dần hồi phục. Bà quyết định lại chuyển đến Ephesus. Cuộc hành trình, một lần nữa, lại ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của Người. Đức Mẹ Đồng Trinh Maria cuối cùng đã chết tại ngôi nhà mới, lúc đó bà 64 tuổi.
nha-cua-duc-me-dong-trinh_3-content
Các vị Thánh tông đồ đã tiến hành khâm liệm và làm lễ tang cho bà. Họ quàn thi thể Đức Mẹ vào một cỗ quan tài được chuẩn bị đặc biệt, sau đó đem quan tài đặt trong một hang động cách ngôi nhà chừng vài cây số.

Emmerich thậm chí còn trông thấy cảnh Thánh Thomas khóc thảm thiết vì không thể đến kịp đám tang. Những tông đồ khác chứng kiến Thomas quá đau buồn đã phải để cho ông trực tiếp vào trong hang mộ hành lễ.
Nữ tu sỹ kể lại: “Khi đến trước cửa hang, mọi người đều phủ phục xuống. Thomas và các tín hữu nôn nóng tiến về phía cửa. Thánh John theo sau họ. Hai vị tông đồ vạch những bụi cây chắn lối vào hang và quỳ xuống. Thánh John đến bên quan tài và mở nắp. Trong sự kinh ngạc của mọi người, tấm vải liệm vẫn y nguyên nhưng thi hài của Đức Mẹ không còn!”.

Sau sự kiện huyền bí đó, miệng hang quàn thi hài của Đức Mẹ được bít lại vĩnh viễn, còn ngôi nhà nhỏ trở thành nhà nguyện của các tông đồ.

Những câu chuyện của Emmerich sau đó đã được nhà văn Brentano viết lại thành cuốn sách nổi tiếng “Cuộc đời của Đức Mẹ Đồng Trinh Maria” xuất bản vào giữa thế kỷ 19. Tuy nhiên vào thời điểm đó vẫn chưa ai có thể xác định được ngôi nhà của Đức Mẹ còn tồn tại hay không.

Năm 1881, một mục sư người Pháp tên là Julien Gouyet, sau khi đọc sách của Brentano đã quyết định đi đến khu vực thành phố Cổ Ephesus để tìm hiểu về những điều được kể trong câu chuyện. Ông đã gặp Tổng giám mục đương thời của địa phương là Monseigneur Timoni để trình bày ý tưởng và được vị này cho người giúp đỡ.
nha-cua-duc-me-dong-trinh_4-content
Sau một thời gian dài nỗ lực tìm kiếm không biết mệt mỏi, cuối cùng Gouyet đã tìm thấy một ngôi nhà cổ mà ông tin rằng nó từng là nơi sinh sống của Đức Mẹ Đồng Trinh Maria. Ngôi nhà nằm trên một ngọn núi nhìn ra biển Aegean và những tàn tích của thành cổ Ephesus.

Gouyet hào hứng gửi các báo cáo liên quan lên Tòa Giám mục Paris và thậm chí là đến Rome. Tuy nhiên, trái với sự mong đợi và kỳ vọng, công trình của ông đã không nhận được sự chú ý và quan tâm nào đáng kể.
Mãi cho đến mười năm sau, vào năm 1891, hai vị linh mục khác là Cha Poulin và Cha Jung đọc được những tài liệu liên quan đến cái chết của Đức Mẹ Đồng Trinh Maria tại Ephesus. Họ quyết định thành lập một nhóm nghiên cứu dưới sự bảo trợ của nữ tu sỹ Marie de Mandat-Grancey để xem xét lại địa điểm mà Gouyet đã nêu.

Dựa vào những ghi chép mà Gouyet để lại, nhóm nghiên cứu đã tìm thấy dấu tích của ngôi nhà vào ngày 29/7/1891. Tình trạng của ngôi nhà lúc đó chỉ còn lại những bức tường bằng đá rêu phong, phần mái đã bị hủy hoại hoàn toàn. Tuy nhiên, giữa những đống đổ nát, họ tìm thấy một bức tượng Đức Mẹ vẫn đứng với một bàn tay bị vỡ.

Không một nơi nào khác trong khu vực có cảnh quan phù hợp với những mô tả trong truyền thuyết như vậy. Hơn nữa, nhóm nghiên cứu cũng được biết rằng phế tích vừa tìm thấy đã được người dân địa phương tôn kính từ thế hệ này sang thế hệ khác. Họ gọi ngôi nhà này là Panaya Kapulu, nghĩa là “ô cửa đến với Đức Mẹ Đồng Trinh”.
nha_duc_me_5-content
Báo cáo của nhóm nghiên cứu bắt đầu được giới chức Nhà thờ chú ý. Họ tiếp tục tiến hành các nghiên cứu mang tính khoa học. Vị tổng giám mục của Izmir là Monseignor thậm chí còn tổ chức hẳn một nhóm gồm bảy linh mục và năm chuyên gia để ghi chép lại và cho ra đời cuốn sách “Lịch sử của Panaya Kaplu” vào tháng 12/1892.

Thời gian sau đó, nữ tu sỹ Marie de Mandat-Grancey, người bảo trợ cho nhóm nghiên cứu và cũng rất tin tưởng vào câu chuyện, đã bỏ rất nhiều công sức để có được quyền quản lý khu di tích. Bà cũng nỗ lực hết mình để có thể trùng tu và phục dựng lại những ngôi nhà và các công trình khác.
Quần thể di tích được phục dựng hoàn tất vào năm 1894. Mẹ Marie được ghi nhận là người sáng lập, bà quản lý khu di tích này cho đến khi mất vào năm 1915.

Ngày nay, Nhà của Đức Mẹ Đồng Trinh Maria trở thành một địa điểm hành hương linh thiêng đối với giáo đồ Đạo Thiên Chúa. Ngôi nhà được phục dựng dựa trên những bức tường bằng đá cổ, trở thành một nhà nguyện linh thiêng.

Chính giữa, ngay lối vào nhà nguyện là căn phòng lớn nhất với ban thờ và tượng của Đức Mẹ Đồng Trinh Maria. Phía bên phải là một căn phòng nhỏ được cho là nơi mà Đức Mẹ đã từng nằm nghỉ. Dòng nước mà Người từng rửa ráy nay được sử dụng cho một đài phu nước bên ngoài.

Đáng chú ý hơn cả chính là “Bức tường ước” nằm ngay bên ngoài nhà nguyện. Khách hành hương có thể ghi những điều mong muốn vào giấy hay là một mảnh vải sạch rồi treo lên bức tường. Người ta tin rằng quyền năng của Đức Mẹ có thể giúp họ hoàn thành điều ước.

Ngoài ra họ cũng rất tin tưởng rằng việc uống nước lấy từ những suối khe trong khu vực, nơi mà Đức Mẹ Đồng Trinh sử dụng từ hàng ngàn năm trước, có tác dụng điều trị bệnh thần kỳ, hay chí ít cũng mang lại sức khỏe cho bản thân.

Giáo Hội Công giáo Roma chưa bao giờ tuyên bố về tính xác thực của khu di tích do chưa có chứng cứ khoa học nào đáng kể. Tuy nhiên có thể thấy họ cũng coi trọng Nhà của Đức Mẹ Đồng Trinh không kém gì các tín đồ mà bằng chứng là rất nhiều những cuộc hành hương thăm viếng của các vị Giáo Hoàng.

Chuyến thăm đầu tiên là của Giáo Hoàng Leo XIII vào năm 1896, chỉ 2 năm sau khi nơi này được trùng tu. Tiếp đó là lần lượt các cuộc hành hương ban phước của Giáo Hoàng Pius XII (1951), Giáo Hoàng Paul VI (1967), Giáo Hoàng John Paul II (1979) hay gần đây nhất là Giáo Hoàng Benedict XVI vào ngày 29/11/2006.

Câu chuyện về Ngôi nhà của Đức Mẹ Đồng Trinh hiện vẫn còn gây rất nhiều tranh cãi, và có lẽ cũng chẳng ai giám chắc rằng là đúng hay sai.

Tuy nhiên, giữa một thế giới hiện đại ngày càng rối ren phức tạp, sự hiện diện của nơi đây vẫn có thể giúp cho con người ta nhớ về những điều thánh thiện và trong sáng nhất. Điều đó thiết nghĩ còn có giá trị hơn rất nhiều so với những sự đúng - sai!

Nguon Suu Tam Internet


11 Tháng Tư 202111:26 CH(Xem: 102)
Có 15 điều mà chúng ta cần lưu ý: 1. Nhược điểm của mình. 2. Thiếu cầu nguyện nên bị cám dỗ. 3. Tình trạng cô đơn, bị bỏ rơi. 4. Tư tưởng dâm ô. 5. Chơi với lửa. 6. Lười biếng. 7. Thế giới của TV và đồ chơi điện tử. 8. Những vết thương lòng của quá khứ. 9. Những cuộc tình trong quá khứ. 10. Luôn trì hoãn mọi sự cho đến ngày mai. 11. Thiếu can đảm phấn đấu, mất niềm trông cậy. 12. Luôn so sánh. 13. Luôn chia trí khi cầu nguyện 14. Mệt mỏi và bịnh tật 15. Bị cám dỗ chống Chúa Giêsu và Đức Mẹ Maria.
11 Tháng Tư 202111:16 CH(Xem: 56)
Lạy Chúa! Với những ai sống trong tội trọng. Sự chết là cổng vào hỏa ngục. Nhưng với những ai sống trong ơn thánh hóa. Sự chết là cổng vào Thiên Đàng. Xin hãy làm cho khát mong lớn lao nhất của con là sống một đời thế nào để không lúc nào sợ chết. Hãy làm cho con SỢ TỘI HƠN SỢ CHẾT và bất cứ sự thiệt hại trần thế nào khác. Amen.
05 Tháng Tư 20215:44 SA(Xem: 91)
Lạy Chúa Giêsu phục sinh, Xin ban cho con sự sống của Chúa, sự sống làm đời con mãi mãi xanh tươi. Xin ban cho con bình an của Chúa, bình an làm con vững tâm giữa sóng gió cuộc đời. Xin ban cho con niềm vui của Chúa, niềm vui làm khuôn mặt con luôn tươi tắn. Xin ban cho con hy vọng của Chúa, hy vọng làm con lại hăng hái lên đường. Xin ban cho con Thánh Thần của Chúa, Thánh Thần mỗi ngày làm mới lại đời con
05 Tháng Tư 20215:40 SA(Xem: 56)
“Đây là ‘ngày Chúa đã làm ra’, nào ta hãy vui mừng hoan hỷ!”. Chúng ta vui mừng hoan hỷ vì Chúa Kitô đã sống lại. Qua cuộc khổ nạn, Con Thiên Chúa đã ôm tội ác của cả nhân loại vào trong tử huyệt, nhưng Ngài không còn ở đó; Ngài chôn vùi sự dữ vào lòng đất và chỗi dậy để khởi đầu một sự sống mới. Chúa đã sống lại! Sự ác không phải là tiếng nói cuối cùng, tử thần bị đánh bại; Ngài đã chiến thắng sự chết, trả lại cho nhân loại sự thanh bình của vườn địa đàng, đất trời reo ca.
30 Tháng Ba 20217:24 SA(Xem: 105)
Thập giá là phát minh bỉ ổi nhất trong lịch sử nhân loại, nhưng kể từ khi Chúa Giêsu đã biến nó thành khí cụ của tình yêu thì mãi mãi các tín hữu đón nhận nó như biểu trưng của tình yêu và lẽ sống. Thập giá đã trở thành niềm vinh dự của họ. Lạy Chúa Giêsu,, chúng con đang chiêm ngắm Chúa trên thập giá. Xin cho chúng con luôn đáp lại lời mời gọi của Chúa để mỗi ngày biết đón nhận thập giá và hân hoan tiến bước theo Chúa.
22 Tháng Ba 202110:31 CH(Xem: 167)
“tôi đã sống nỗi lòng ấy như thế nào rồi?” Từ nỗi lòng hiện sinh ấy, tôi mời gọi bạn nghĩ tới một nỗi lòng khác, nỗi lòng mang tên “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi…”.
19 Tháng Ba 202111:03 SA(Xem: 140)
-Xin Người nên gương cậy trông khi chúng con sắp phải ngã lòng, nên gương tin tưởng khi chúng con không còn hi vọng, nên gương can đảm khi đường đời đầy bảo tố phong ba. -Lạy Thánh Giuse là mẫu gương nhân đức trọn lành, rất đẹp lòng Đức Chúa Cha, xin phù hộ chúng con!" Amen.
19 Tháng Ba 202110:20 SA(Xem: 167)
“Đừng quên là mình xin ơn với một ‘ông Thánh’, phải chính xác với các quý ông.”
17 Tháng Ba 202110:31 SA(Xem: 156)
Số 40 còn là sự kết hợp giữa 4 nhân đức đối nhân: khôn ngoan, công bằng, dũng cảm, tiết độ và 10 điều răn Đức Chúa Trời. Chỉ khi con người thực hiện tốt những điều này thì người đó mới thật sự sống đúng tinh thần mùa Chay và mùa Chay mới trọn vẹn được các giá trị và ý nghĩa của nó.
16 Tháng Ba 20219:41 SA(Xem: 193)
Sống và chết là qui luật tự nhiên của muôn loài muôn vật. Chết là một cách để phát sinh sự sống mới, như Chúa Giêsu đã nói:“Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác”. Như vậy, chết là một sự thay đổi cách thái hiện hữu ở một mức độ phong phú hơn nhiều. Đức Giêsu gọi giờ chết trên thập giá của Ngài là “giờ Con Người được tôn vinh”. Cũng từ đó, Ngài đưa ra một nguyên tắc sống:“Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời”.